Sunday, October 12, 2014

Trách nhiệm của giới truyền thông


DẠY VÀ HỌC. Trần Văn Xẻn lời tâm huyết.Trách nhiệm của giới truyền thông. Quê hương đẹp hơn cả. "Sở dĩ các quốc gia văn minh trên thế giới được như ngày hôm nay là do người dân họ đã dày công xây dựng trong quá khứ. Người dân họ đã nhận lấy trách nhiệm xây dựng tổ quốc và cùng bắt tay canh tân hóa và lành mạnh hóa đất nước của họ chứ không chịu rời bỏ quê hương để sống nhờ ở một đất nước sẵn giàu sẵn đẹp. Người dân họ có tinh thần trách nhiệm rất cao nên đất nước họ mới có được như ngày hôm nay. Đó là thành quả của một quá trình phấn đấu, quyết tâm, kiên trì không ngừng nghỉ mà họ xứng đáng nhận được. Họ làm được thì ta làm được". Bài viết đánh thức trong chúng ta tâm huyết noi gương các người thầy của nhiều thế hệ thầm lặng hiến mình cho Tổ Quốc, quê hương, dấn thân "khai dân trí", biến blog thành trường học, khai thác mạng truyền thông thành nơi dạy và học.

TRÁCH NHIỆM CỦA GIỚI TRUYỀN THÔNG


Trần Văn Xẻn

Giới truyền thông trong bài viết này chủ yếu là những người sinh hoạt trong lĩnh vực văn chương, báo chí, truyền hình, các website, trang blog… Tại sao giới truyền thông phải có trách nhiệm? Câu trả lời rất đơn giản: xã hội có hoàn thiện hay không? con người sống hạnh phúc hay không? các tệ đoan xã hội còn tồn tại hay không? tất cả đều phụ thuộc giới truyền thông có lưu ý, quyết tâm và thực hiện tốt công tác bài trừ tệ đoan xã hội hay không? Vì truyền thông là phương tiện hữu hiệu chứa đựng sức mạnh to lớn. Nó có thể đẩy lùi cái xấu và truyền tải những điều tốt đẹp đến với mọi người.


Ở những quốc gia văn minh và phát triển, trách nhiệm của giới truyền thông không lớn lắm. Nhưng, ở những quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển - nơi chứa đựng và là mầm móng của nhiều tệ đoan xã hội thì trách nhiệm của giới truyền thông là vô cùng to lớn. Nắm trong tay phương tiện truyền thông, đòi hỏi người truyền tải thông điệp phải có tâm, có tầm nhìn, phải biết mình nên làm gì trước những bức xúc, những tệ nạn, những tiêu cực đã và đang diễn ra hằng ngày trong cuộc sống.

Thế nhưng vì gánh nặng cơm áo gạo tiền, chúng ta đã sử dụng các phương tiện truyền thông như những phương tiện mưu sinh và quên đi tác động to lớn và mạnh mẽ của truyền thông lên tâm thức con người. Thật vậy, con người ai cũng có lý trí, cũng biết lắng nghe và thẩm thấu những điều hay lẽ phải. Điều quan trọng là làm cách nào để những điều hay, những điều tốt đẹp được truyền tải một cách văn minh, trọn vẹn nhằm tác động mạnh mẽ lên ý thức con người. Đây là một trong những nguyên nhân chính khiến cách làm truyền thông của ta chưa được tốt. Đó cũng chính là thiếu sót mà các nhà truyền thông cần lưu ý và khắc phục nếu muốn đất nước ngày một hoàn thiện, văn minh và phát triển.

Đất nước ta vừa trải qua hai cuộc chiến đầy cam go và quyết liệt. Suốt một thời gian dài, dân ta phải sống trong cảnh lầm than, cơ cực dưới ách đô hộ của giai cấp thống trị. Nói về khổ, không đất nước nào bằng đất nước của chúng ta. Ngày trước, dân khổ vì chiến tranh, bây giờ dân tiếp tục khổ vì tệ đoan xã hội. Một trong những cái khổ đó là:

- Khổ do cờ bạc, cá độ, lô đề...
- Khổ vì bệnh tật do nghiện rượu.
- Khổ do bạo hành, bạo lực (trong gia đình và ngoài xã hội).
- Khổ do nạn nạo phá thai ngày một tăng và nhiều trẻ sơ sinh bị bỏ rơi.
- Khổ do lạm dụng chất kích thích (xì ke, ma túy, thuốc lắc..)
- Khổ do trộm cướp hoành hành.
- Khổ vì ô nhiễm môi trường (từ khí thải và rác rưởi).
- Khổ do ùn tắt giao thông và sự bất cẩn, cẩu thả của người tham gia giao thông khiến tai nạn giao thông ngày một tăng.
- Khổ vì ngộ độc thức phẩm (do tồn trữ và cung cấp nguồn nguyên liệu không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm).
- Khổ vì phải làm dâu xứ lạ của các cô gái trẻ bị gia đình ép lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc…


Những cái khổ trên, ở các quốc gia văn minh, hầu như không có hoặc rất ít. Tại sao? Không phải vì dân họ thông minh hơn dân mình, không phải vì dân họ đạo đức hơn dân mình, mà do sự quyết tâm bài trừ tệ đoan xã hội của dân họ trong quá khứ. Trong đó, giới truyền thông đã làm tròn trách nhiệm: cổ vũ cái tốt và bài trừ cái xấu. Chính phủ và giới truyền thông của những quốc gia này đã trải qua quá trình kiến thiết đất nước hữu hiệu hơn chúng ta. Chúng ta hãy can đảm chấp nhận thực tế yếu kém này và cùng suy nghĩ tìm ra phương án để góp phần cải thiện xã hội ngày một toàn diện hơn. Một trong những phương án hữu hiệu và thiết thực nhất là các giới truyền thông hãy hợp lực cùng nhau trong công cuộc đả phá các tệ đoan xã hội. Đây là cuộc chiến không nhân nhượng. Nó đòi hỏi sự kiên trì, bền bĩ và quyết tâm cao độ. Chỉ như vậy, mới có thể xóa bỏ triệt để các tệ đoan xã hội.

Với báo chí
 
Báo chí dần dà trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống mọi người, nhất là ở người thành thị. Việc này cho thấy báo chí có thể góp phần cải tạo xã hội vô cùng hiệu quả. Tất cả các nhật báo, tuần báo, nguyệt san… ngoài thông tin hàng ngày, có thể dành một phần của tờ báo để đăng tải những bài viết “phá tệ đoan” một cách liên tục, khi đề tài này, khi đề tài khác, đăng đi đăng lại nếu cần, ngày này qua ngày nọ, cho đến khi những tệ đoan trên không còn nữa. Việc này đòi hỏi một sự hy sinh rất lớn từ tờ báo. Nhưng, hy sinh cho quốc gia dân tộc của mình là sự hy sinh cao quý đúng không?


Với truyền hình
 
Truyền hình ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong sinh hoạt giải trí của người dân. Chúng ta có thể tận dụng phương tiện này để cải tổ xã hội. Các đài truyền hình nên dành một số kênh trong ngày để phát những tiết mục có tác dụng đả kích, phê phán các tệ đoan xã hội. Thường xuyên trình chiếu và phát sóng những chương trình, những cuộc hội thoại, những vở kịch, những cuốn phim đề cao những tấm gương đạo đức. Tuyệt đối không trình chiếu những phim bạo động, khích dục… những gì con em có thể bắt chước làm đồi trụy thêm xã hội của chúng ta. Nếu được như thế, xã hội sẽ dần dần được cải tiến một cách không ngờ.


Với văn học
 

Văn học là kho tàng văn hóa của dân tộc. Văn chương vừa là bạn, vừa là thầy trên bước đường tiến đến văn minh. Với hiện tình xã hội, chúng ta nên bổ sung những tác phẩm có nội dụng:
- Đề cao lòng yêu nước – hy sinh quyền lợi cá nhân và gia đình để đóng góp tích cực vào việc kiến thiết đất nước.
- Đề cao sự hy sinh cao quý – hy sinh cho gia đình, cho đoàn thể và tổ quốc.
- Đề cao lòng vị tha – lấy tình thương xóa bỏ hận thù, lấy tình đồng hương để đoàn kết dân tộc.
- Đề cao việc thượng tôn pháp luật trong mọi lĩnh vực.
- Đề cao sự cần, kiệm, liêm, chính của tất cả mọi người trong mọi ngành nghề.
- Đề cao sự hiếu thảo của con cháu đối với ông bà, cha mẹ.
- Đề cao sự tương kính lẫn nhau – đối xử nhau như người thân, dù có sự bất đồng ý kiến về một việc gì đó, kể cả ý thức hệ.
- Đề cao sức mạnh của nghị lực để vượt qua những cám dỗ của cuộc đời như bài bạc, rượu chè, xì ke, ma túy…
- Đề cao sự siêng năng học hỏi và tinh thần cầu tiến.
- Đề cao sự tham gia tích cực các hoạt động từ thiện ngoài xã hội…
 

Chúng ta cần những tác phẩm có hậu (happy ending), những tác phẩm đem lại niềm tin và hy vọng cho độc giả sau khi đọc xong tác phẩm. Các văn sĩ hãy dùng văn tài của mình để sáng tác những tác phẩm có ích lợi thiết thực cho đất nước nhiều hơn.

Với các website, blog và facebook:
 

Sự lan tỏa và phát triển của internet góp phần thúc đẩy sự tiến bộ và văn minh của xã hội loài người. Tuy nhiên, con người đã và đang lạm dụng phương tiện này với những mục đích không lành mạnh làm mất đi giá trị vốn có của nó. Thật vậy, các website, các trang blog và facebook thay vì đưa lên những hình ảnh đồi trụy, những lời lẽ thô tục, những bài viết mạ lụy, vu khống, chia rẽ dân tộc thì hãy đưa lên những hình ảnh tốt đẹp, những lời khuyên bổ ích, những bài viết lành mạnh, ôn hòa, có tính thuyết phục cao để truyền tải và đánh động đến tâm tư người đọc một cách trọn vẹn nhất.

Về mặt thông tin, hạn chế đăng tải những tin tức mang tính khủng bố, đe dọa, bạo lực, bạo hành… tích cực đưa những thông tin có nội dung, lành mạnh, hữu ích, những gương người tốt, việc tốt… hướng người xem đến chân - thiện - mỹ. Thí dụ như chuyện loạn luân, bức hiếp phụ nữ, những thông tin này chẳng những không đem lại ích lợi cho người xem mà còn gieo vào đầu độc giả những hình ảnh không tốt đẹp và đem lại cảm giác đau buồn cho người xem. 

Những việc trộm cướp bị đưa ra tòa luận tội thì rất đáng được đăng, vì nó sẽ làm chùn bước những người sắp gây tội phạm. Việc giới hạn thông tin xấu giống việc giới hạn vật thực xấu – chỉ nên tiêu dùng vật thực tốt cho sức khỏe, chứ không phải tiêu dùng tất cả những gì hiện diện trên quả địa cầu này, nhất là những thứ rất có hại cho sức khỏe như rượu, thuốc lá, xì ke và ma túy. Nói tóm lại, những thông tin xấu dễ làm người ta bi quan, ủy mị, thậm chí bắt chước nếu pháp luật không xử lý nghiêm minh. Ngược lại, những thông tin tốt lại giúp người ta lạc quan và có niềm tin vào cuộc sống - như những việc làm từ thiện chẳng hạn. Những người làm website, viết blog…nên cẩn trọng hơn trong cách viết bài và truyền tải thông điệp để cải tạo xã hội ngày một hoàn thiện hơn.

Với video và phim ảnh
 
Video và phim ảnh ngày càng bành trướng sâu rộng với tầm ảnh hưởng hết sức lớn lao. Chúng ta hãy thực hiện những cuốn phim đả phá tệ đoan xã hội và đề cao nếp sống đạo đức con người. Tuyệt đối không thực hiện những video, phim ảnh mang tính bạo lực, đồi trụy… 


Cuộc sống đã có quá nhiều tội ác và bạo động. Chúng ta không nên đưa những cảnh bạo động, những hình ảnh kích thích vào phim ảnh làm trẻ em bắt chước. Những tội ác vi phạm tình dục ngoài xã hội phần lớn là hệ quả nghiêm trọng từ việc lạm dụng, bắt chước video và phim ảnh. Hãy ban hành sắc lệnh nghiêm cấm và xử lý nặng những trường hợp vi phạm. Các nhà làm video, phim ảnh hãy thấy rõ trách nhiệm của mình để làm sao cho xã hội ngày một thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn.

Nếu chúng ta không nhận lấy trách nhiệm bài trừ các tệ đoan xã hội thì lấy ai gánh vát trọng trách này đây? Quê hương có tốt đẹp hay không là do mỗi người có chịu đóng góp tích cực, chứ không thể qui mọi trách nhiệm cho nhà nước. Nếu có thể, chúng ta hãy vận động với chính phủ và quốc hội ban hành những đạo luật cần thiết để bài trừ tệ đoan xã hội. Ngày nào xã hội còn tệ nạn thì ngày đó trách nhiệm của giới truyền thông vẫn còn. Chúng ta hãy sáng tác những tác phẩm chất lượng, thực hiện những cuốn phim, những vở kịch đề cao lối sống lương thiện, nếp sống đạo đức, bài xích tệ đoan và vận động với các giới truyền thông khác để cùng nhau lành mạnh hóa xã hội, thiết lập dần lối sống chuẩn mực của một xã hội văn minh, lịch sự.

Sở dĩ các quốc gia văn minh trên thế giới được như ngày hôm nay là do người dân họ đã dày công xây dựng trong quá khứ. Người dân họ đã nhận lấy trách nhiệm xây dựng tổ quốc và cùng bắt tay canh tân hóa và lành mạnh hóa đất nước của họ chứ không chịu rời bỏ quê hương để sống nhờ ở một đất nước sẵn giàu sẵn đẹp. Người dân họ có tinh thần trách nhiệm rất cao nên đất nước họ mới có được như ngày hôm nay. Đó là thành quả của một quá trình phấn đấu, quyết tâm, kiên trì không ngừng nghỉ mà họ xứng đáng nhận được. 

Họ làm được thì ta làm được? Tâm lý của người Việt trong nước: chỉ muốn vượt ra ngoài để có cuộc sống tốt hơn về tinh thần và vật chất. Tâm lý người Việt ngoài nước: không bao giờ có ý định về nước sinh sống vì đã có được một tương lai ổn định ở xứ người. Nếu tất cả người Việt đều như thế thì lấy ai xây dựng đất nước? Tại sao người trong và ngoài nước, không cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam văn minh và phồn thịnh như những quốc gia tiên tiến trên thế giới để chúng ta và những thế hệ kế tiếp sinh sống? 

Hãy can đảm và vững tin, đừng vì bất cứ lý do gì khiến ta chùn bước. Có như vậy, mới mong kiến thiết được một đất nước Việt Nam văn minh và giàu đẹp, để tự tin sánh sai với các cường quốc năm châu và cộng đồng quốc tế.

Trần Văn Xẻn


đọc thêm:


CÂU CHUYỆN ẢNH(Bấm vào đây để đọc bài mới nhất)
 

Friday, September 26, 2014

Việt Nam những khoảng khắc tuyệt đẹp

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI. Những bức ảnh của nhiếp ảnh gia Hoàng Nam có góc nhìn tinh tế, màu sắc cuốn hút, lột tả được vẻ đẹp nguyên sơ của dải đất hình chữ S làm say đắm lòng người!

Trên sóng nước An Giang.
Ráng chiều trên đồng bằng sông Cửu Long.
Kiểm tra lưới lúc tờ mờ sáng.
Thiếu nữ trên cầu khỉ.

Quăng lưới.
Thôn nữ chèo thuyền.
Trèo thốt nốt.
Đánh cá bằng gọng vó ở Châu Đốc.
Đàn sếu.
Đường về nhà.
Trên bãi biển Bạc Liêu.
Lão ngư phủ ở Lâm Đồng.
Theo Thu Hà
Chuyển tiếp bởi NPQ, NTTH, NPN
CHÀO NGÀY MỚI
►  2013 (41)
Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam


Giới Thiệu Du Lịch Việt Nam 

 Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam,
Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con 

Monday, September 1, 2014

Đọc lại và suy ngẫm Việt Nam thống nhất


VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI. Chào ngày mới  2 tháng 9. Chào ngày mới Việt Nam. Hôm nay là ngày Quốc khánh Việt Nam (1945) ngày mất của chủ tịch Hồ Chí Minh (1969). Việt Nam phải ba mươi năm sau ngày Quốc khách mới đạt được một đất nước thống nhất (1975), và phải hơn ba mươi năm sau nữa vết thương chia cắt mới dần lành lặn, và có lẽ phải hơn ba mươi năm sau nữa chất lượng cuộc sống, dân chủ tự do, môi trường trong lành mới an tâm hơn. Thống nhất, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc vẫn vừa là động lực vừa là mục tiêu của con đường Việt Nam đi tới. Đọc lại và suy ngẫm về thống nhất, tài liệu trích dịch của Phan Ba.  Nguyễn Cao Kỳ: Thống nhất là mục tiêu lịch sử của mọi người Việt. "Chúng tôi gọi miền Bắc là vệ tinh của Nga và họ gọi chúng tôi là bù nhìn của Mỹ. Cả hai đều không đúng: chúng tôi là những người dân tộc chủ nghĩa, là người Việt. Chúng tôi đã và đang là một nước nhỏ và nghèo. Tôi thật đau lòng khi một vài người vẫn còn nghĩ rằng chúng tôi chiến đấu cho Hoa Kỳ hay cho ai đó, nhưng không cho Việt Nam. Ngày nay, đất nước lại thống nhất. Đó là mục tiêu lịch sử của mọi người Việt. Tất nhiên là chúng tôi phải giải quyết nhiều vấn đề; có kẻ thắng và người thua. Và có nhiều điều tàn ác trong vòng 25 năm vừa qua trong người Việt, nhưng chúng tôi đã đạt tới mục tiêu của chúng tôi – thống nhất đất nước.". 

THỐNG NHẤT LÀ MỤC TIÊU LỊCH SỬ  CỦA MỌI NGƯỜI VIỆT

Nguyễn Cao Kỳ

(Theo Phan Ba Truyện dịch - Sách dịch)
Tháng Chín 1, 2014

Nguyễn Cao Kỳ

Nguyễn Cao Kỳ
Nguyễn Cao Kỳ là thủ tướng từ 1965  tới 1967 và phó tổng thống Nam Việt Nam từ 1967 tới 1971. Sinh ra ở gần Hà Nội, ông học tại một học viện quân đội Việt Nam vào cuối những năm 40 và sang Paris từ 1951 cho tới 1954 để được đào tạo thành phi công. Sau cuộc đảo chính Diệm năm 1963, ông chỉ huy lực lượng Không quân Nam Việt Nam. Trong thời gian nhậm chức thủ tướng, ông đã phá vỡ lực lượng đối lập của Phật giáo trong đất nước với những biện pháp tàn bạo, chạy sang Hoa Kỳ năm 1975 dưới sự bảo vệ của người Mỹ và ngày nay là doanh nhân ở đó.  

 Vào cuối cuộc chiến tranh chống Pháp – sau Hiệp định Genève năm 1954 – Việt Nam bị chia ra thành miền Bắc và miền Nam. Nam Việt Nam trở thành một cái gì đó giống như tiền đồn của cuộc Chiến tranh Lạnh. Đó không phải là quyết định của nhân dân Việt Nam, đó là một thỏa thuận của các cường quốc.

Chúng tôi gọi miền Bắc là vệ tinh của Nga và họ gọi chúng tôi là bù nhìn của Mỹ. Cả hai đều không đúng: chúng tôi là những người dân tộc chủ nghĩa, là người Việt. Chúng tôi đã và đang là một nước nhỏ và nghèo. Tôi thật đau lòng khi một vài người vẫn còn nghĩ rằng chúng tôi chiến đấu cho Hoa Kỳ hay cho ai đó, nhưng không cho Việt Nam. Ngày nay, đất nước lại thống nhất. Đó là mục tiêu lịch sử của mọi người Việt. Tất nhiên là chúng tôi phải giải quyết nhiều vấn đề; có kẻ thắng và người thua. Và có nhiều điều tàn ác trong vòng 25 năm vừa qua trong người Việt, nhưng chúng tôi đã đạt tới mục tiêu của chúng tôi – thống nhất đất nước.
Đầu những năm sáu mươi, chính phủ Nam Việt Nam bắt đầu yếu đi. Có những căng thẳng trầm trọng với người theo đạo Hồi và đạo Phật. Vào thời gian này, tôi là sĩ quan cấp dưới, không tham gia hoạt động chính trị. Sau lần giết chết Diệm trong tháng Mười một 1963, Nam Việt Nam bước vào một thời kỳ hết sức không ổn định. Có đảo chính và phản đảo chính, hầu như mỗi ngày, mỗi tuần. Trong vòng hai năm – từ 1963 tới 1965 – có cho tới bảy hay tám chính phủ quân đội và dân sự khác nhau. Chính phủ cuối cùng trước nhiệm kỳ của tôi là một chính phủ dân sự. Người đứng đầu nhà nước thuộc một đảng khác với thủ tướng. Thế là họ chống nhau và vì vậy mà cuối cùng không thể cầm quyền.

Vào một đêm nào đó, chúng tôi nhận được một lời yêu cầu từ người đứng đầu nhà nước và thủ tướng, hãy tới tìm họ trong văn phòng nhà nước. Khi chúng tôi đến đó, họ tuyên bố: “Chúng tôi từ chức và giao quyền lực cho các anh, giới quân đội.” Lúc đầu, chúng tôi cố thuyết phục họ đừng từ chức, vì sau bao nhiêu đảo chính và phản đảo chính chúng tôi thật sự là đã quá chán ngán chính trị vào thời gian này. Chúng tôi không muốn bị lôi kéo vào việc đó. Chúng tôi cố thuyết phục họ năm, sáu tiếng, nhưng vào khoảng một giờ sáng thì lời nói không của họ là chắc chắn. Hết sức mệt mỏi, chúng tôi trở về nhà, để rồi lại gặp nhau vào ngày hôm sau – lần này thì chỉ những người chủ huy quân đội. Chúng tôi phải thành lập một chính phủ mới, để nghị một vài cái tên, nhưng không ai muốn nhận lấy trách nhiệm nặng nề này. Thật là kỳ lạ: trước đó thì tất cả đều tranh giành lấy chức vụ này, rồi thì không ai muốn nó. Hai ngày sau đó, người ta đến gặp tôi và đề nghị tôi. Nếu đó là ý muốn của quân đội và nhân dân thì tôi còn phải nói gì? Thế là vào ngày hôm sau đó, tôi trở thành thủ tướng trẻ tuổi nhất của toàn cuộc chiến. Tôi chưa từng bao giờ xin vị trí đó, chưa từng bao giờ tranh giành nó, tôi là người lính, phi công lái máy bay chiến đấu. Nhưng là người châu Á thì tôi tin vào số phận.


Dinh Gia Long trong lúc đảo chánh năm 1963

Dinh Gia Long trong lúc đảo chánh năm 1963
Sau cuộc họp đó, quân đội mời tôi nhận trách nhiệm lập chính phủ, để bình thường hóa tình hình. Tôi rất hãnh diện, rằng tôi đã làm tròn nhiệm vụ của mình – lo ổn định, phác thảo một hiến pháp mới và tiến hành bầu cử. Sau đó, tôi từ chức, để trở về với quân đội. Nếu như tôi ham muốn quyền lực thì tôi đã có thể ngồi lại trên ngai vàng của tôi, vào lúc đó, tôi là người có nhiều quyền lực nhất ở Việt Nam. Nhưng tôi ghét chính trị. Người ta không thể là một nhà chính trị thành công khi người ta thật thà.

Vấn đề lớn nhất là toàn bộ sự lộn xộn mà tôi phải tiếp nhận sau hai năm tranh cãi nội bộ. Thêm vào đó là xâm lược của miền Bắc. Đó là một việc rất khó khăn, khi chúng tôi phải chống lại quân du kích và thêm vào đó là quân đội chính quy Bắc Việt. Là sai lầm khi nói rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam mà một cuộc xung đột chỉ giữa Nam Việt Nam và Việt Cộng hay chỉ giữa Mỹ và Việt Cộng. Đó là một cuộc chiến giữa miền Bắc và miền Nam thì nhiều hơn.

Thời đó tôi còn rất trẻ, mới 35, và không phải là chính trị gia. Tôi không biết gì ngoài lái máy bay. Nhưng là thủ tướng thì tôi luôn cố làm điều tốt nhất cho đất nước tôi. Nhiều người có thể hoàn toàn không biết: đó xuất phát từ sáng kiến của tôi, việc Hoa Kỳ rút quân đội của họ về. Vâng, tôi đề cập tới vấn đề đó với ngài Nixon khi tôi đến thăm ông ấy trong Nhà Trắng. Tôi nói với ông ấy, rằng trước bầu không khí phản chiến trong người dân Mỹ thì trước sau người ta cũng phải rút các đơn vị ra khỏi Việt Nam. Thế thì tại sao không ngay từ bây giờ? Nixon dường như nhẹ nhỏm, đồng ý. Nhưng ông ấy còn đưa ra vài câu hỏi: “Anh có tin rằng quân đội Nam Việt có thể tiến hành cuộc chiến một mình hay không?” Tôi nói với ông, đã đến lúc phải đối phó với thực tế. Một ngày nào đó thế nào đi nữa thì ông phải rút lui. Tức là tốt hơn thì hãy sắp xếp ngay từ bây giờ, để sau này những người lính Nam Việt có khả năng tự khẳng định mình.

Thế là Nixon gọi điện cho bộ trưởng Bộ Quốc phòng, và vào ngày hôm sau đó họ sắp xếp một cuộc gặp gỡ với tất cả những người có trách nhiệm trong Lầu Năm Góc. Lần đầu tiên chúng tôi nói chính thức về việc rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam. Và tôi nhớ rằng tất cả chúng tôi đều thống nhất với nhau rằng đó là con đường đúng đắn duy nhất. Rồi còn bàn về cái tên chính thức cho kế hoạch. Họ muốn gọi nó là “phi Mỹ hóa” cuộc chiến. Tôi không đồng ý, vì điều đó có nghĩa là cho tới bây giờ đó thuần túy là một cuộc chiến của Mỹ. Cuối cùng, chúng tôi thỏa thuận cái tên “Việt Nam hóa”.

Sự hợp tác giữa quân đội Mỹ và các lực lượng Nam Việt Nam tương đối tốt, ví dụ như quan hệ giữa tướng Westmoreland và tổng tư lệnh của người Việt hay cả quan hệ cá nhân của tôi với ông ấy và với tất cả các viên chỉ huy Mỹ. Đó là một quan hệ thân thiện, đầy sự thông hiểu. Tôi tôn trọng họ. Tôi nghĩ mặc dù tôi rất trẻ nhưng cả họ cũng tôn trọng tôi. Đặc biệt là tổng thống Johnson. Tôi nhớ lại một cuộc họp ở Honolulu. Vào buổi tối có tiệc chiêu đãi lớn. Johnson bất chợt bước đến với tôi và nói: “Thiếu tướng, mời ông đi theo tôi!” Hai chúng tôi vào phòng ngủ của ông. Ở đó, ông ấy giải thích cho tôi. “Tất cả những lời nói đó trước báo chí hay trên hội nghị và hội họp – anh hãy quên nó đi. Tất cả chỉ là một việc giữa anh và tôi. Chúng ta đưa ra một quyết định. Tức là chỉ hai chúng ta thôi!” Đó là một ví dụ cho việc họ thật sự tôn trọng tôi.

Với sự thông hiều ngày nay của tôi về nhân dân Mỹ – tôi sống từ 24 năm nay ở Hoa Kỳ – về hệ thống và về đất nước, tôi nhận ra rằng tôi đã không thật sự hiểu người Mỹ vào thời đó. Khi nhìn lại, tôi nhận ra rằng cả họ cũng không hiểu người Việt. Giá như thời đó mà tôi có được kiến thức của ngày nay thì các quan hệ của chúng tôi đã có thể được tạo dựng tốt hơn rất nhiều. Tôi đã có thể xin sự trợ giúp, không phải xin chính phủ Hoa Kỳ mà là nhân dân Mỹ.

Năm 1968, tôi từ chức thủ tướng và tổ chức bầu cử. Người ta mời tôi đảm nhận trách nhiệm thêm một lần nữa. Thế là tôi trở thành phó tổng thống trong bốn năm. Sau nhiệm kỳ chính phủ năm 1971, tôi lui ra khỏi chính trường hoàn toàn. Mặc dù tôi vẫn còn cấp bậc của một thống chế, tôi sống hoàn toàn ẩn dật như một người nông dân ở nông thôn.

Từ tháng Ba cho tới tháng Sáu 1966 đã xảy ra nhiều cuộc bạo loạn Phạt giáo ở Huế và Đà Nẵng. 180 người chết và hơn 700 người bị thương trong thời gian đó.

Từ tháng Ba cho tới tháng Sáu 1966 đã xảy ra nhiều cuộc bạo loạn Phạt giáo ở Huế và Đà Nẵng. 180 người chết và hơn 700 người bị thương trong thời gian đó.
Khi quân đội Mỹ rút năm 1973, Nam Việt Nam phải chống chọi một mình với du kích quân và người Bắc Việt. Cùng với lần rút quân, sự hỗ trợ của Hoa Kỳ về kinh tế và quân sự tiến về gần tới con số không. Bắc Việt có sự giúp đỡ của Nga và Trung Quốc. Vì thế mà kết cuộc là không thể tránh khỏi. Nhưng nó đến quá nhanh, quá đột ngột, chỉ trong vòng 30 ngày – đó là một thảm bại.

Hai tuần trước khi kết thúc, mọi người đều đến gặp tôi, quân đội, chính khách, người Phật giáo, người Công giáo – tất cả. Và họ nói: “Anh là hy vọng cuối cùng của chúng tôi. Xin hãy làm gì đó!” Nhưng tất nhiên là tôi đã nhận thấy rằng tất cả đã quá muộn. Đến người Mỹ không cũng muốn chúng tôi ở lại và chiến đấu. Tôi còn nhớ tôi đã gặp đại sứ Hoa Kỳ. Tôi hỏi ông, liệu chúng tôi có thể tổ chức quân đội ở vùng châu thổ để tiếp tục chiến đấu với sự giúp đỡ của người Mỹ hay không. Ông ấy nói: “Không. Anh đừng nghĩ về một điều như vậy. Ngày mai chúng tôi sẽ biến đi. Và anh đi cùng với chúng tôi.” Vào buổi sáng ngày 29 tháng Tư 1975 tôi một mình ở trong sở chỉ huy của tổng tư lệnh. Khi tôi cố liên lạc với các chỉ huy dù và thủy quân lục chiến thì tất cả đều đã bỏ đi rồi. Tôi còn ở lại một mình với một chiếc máy bay trực thăng, mười người lính gác và người phục vụ. Vào lúc hai giờ trưa họ nói với tôi: “Thiếu tướng, xin hãy đi đi. Thiếu tướng còn làm gì được nữa?”

Ngày nay vẫn còn có người nghĩ rằng Việt Nam gồm hai nước, miền Bắc và miền Nam. Nhưng chỉ tồn tại một Việt Nam thôi. Người ta phải chấp nhận sự thật, rằng đất nước ngày nay đã thống nhất và tự do.  Nhưng hệ thống đó không tốt. Điều mà chúng tôi phải đấu tranh cho nó là một trật tự dân chủ. Chúng tôi cần một sự biến đổi hệ thống, cần những người lãnh đạo tốt, suy nghĩ và hành động cho nhân dân, Những người ngày nay chiếm các vị trí lãnh đạo ở Việt nam biết vấn đề đó. Họ biết nếu cứ tiếp tục như cho tới nay thì sẽ không còn có chỗ cho họ trong thế kỷ 21. Bầu cử và mở cửa Việt Nam là không thể tránh khỏi.

Nhiều người Việt lưu vong, di cư sang Mỹ, đã nhập tịch. Tôi là người duy nhất vẫn còn quốc tịch Việt. Lần nào tôi rời đất nước này thì tôi đều phải xin phép được tái nhập cảnh. Hải quan và cơ quan di dân hiện giờ đã biết mặt tôi. Và đại sứ của những nước mà tôi xin thị thực đều nói: “Kỳ, hoàn toàn không phải là vấn đề!” Bây giờ tôi đã 70 tuổi, và trong thời gian còn lại của tôi, tôi sẽ làm tất cả để Việt Nam có thể sống trong hòa bình và thịnh vượng. Giấc mơ của tôi là trở về, làm nông dân và chơi đánh golf.

Phan Ba trích dịch từ “Apokalypse Vietnam”
Đọc những bài phỏng vấn khác ở trang Chiến tranh Đông Dương


Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam


Trở về trang chính 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con 
 

Wednesday, July 30, 2014

Phong Nha Kẻ Bàng vùng di sản

VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI . Quảng Bình là vùng di sản địa linh nhân kiệt, nơi trung độ gánh hai đầu của đất nước, nơi giao thoa và tiếp biến văn hoá lịch sử trên cả hai chiều Bắc Nam và Đông Tây. Đây là vùng danh thắng hang động và vùng rừng nguyên sinh có giá trị du lịch sinh thái rất nổi tiêng như Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, khu bảo tồn thiên nhiên Khe Nét, khu bảo tồn thiên nhiên núi Giăng Màn, khu bảo tồn thiên nhiên Khe Ve...

ĐẤT MẸ VÙNG DI SẢN


Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh

NGUỒN SON NỐI PHONG NHA

NGỌC PHƯƠNG NAM Lối vào di sản Nguồn Son nối Phong Nha. Ảnh Hoàng Kim chụp từ ngã ba sông Rào Nan, Chợ Mới, nguồn Son kết nối vùng di sản Phong Nha – Kẽ Bàng.
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh




Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh

Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh

ĐỘNG THIÊN ĐƯỜNG TUYỆT ĐẸP

NGỌC PHƯƠNG NAM.  "Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai. Chuyện xưa nay gặp lại.  Thiên Đường nơi hạ giới. Đẹp lung linh mê hồn". Các nhà thám hiểm Hội Hang động Hoàng gia Anh (BCRA) khi phát hiện ra hang động Thiên Đường năm 2005 đã bàng hoàng kinh ngạc trước vẻ đẹp kỳ ảo thần tiên, chỉ có thể thốt lên được hai chữ Thiên Đường!  


Còn tiếp  (…)



ĐỘNG SƠN ĐOÒNG HUYỀN BÍ 



VIỆT NAM TỔ QUỐC TÔI. Động Sơn Đoòng  nằm trong quần thể hang động di sản thế giới Phong Nha-Kẻ Bàng tại tọa độ 17°27'25.88" Bắc 106°17'15.36" Đông ở xã Sơn Trạch huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Sơn Đoòng là kỳ quan thiên nhiên bậc nhất thế giới ! Vòm hang Sơn Đoòng cao gần 243,84 m, có thể chứa lọt một tòa nhà cao 40 tầng của thành phố New York (Mỹ) Video National Geographic và những bức ảnh lộng lẫy do nhiếp ảnh gia Carsten Peter chụp vào tháng 5 năm 2010 đã ghi nhận. National Geographic - The world's biggest cave 2010 HDTV 720p



Huyền bí Phong Nha - Kẻ Bàng - Thiên đường trên trái đất

Vẻ đẹp siêu thực của Sơn Đoòng - Ảnh: Hội Địa lý Hoàng gia Anh (BCRA)


<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/9bGVR2oaAbs?list=PLYOc9omEd2C64WuDdoMcXM4hLmfBNI44B" frameborder="0" allowfullscreen></iframe>

National Geographic - The world's biggest cave 2010 HDTV 720p

MỜI BẠN VỀ QUÊ CHOA

Quảng Bình không những có vùng danh thắng di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha- Kẻ Bàng mà còn là  vùng cảnh quan hấp dẫn của nhiều cụm du lịch đầy tiềm năng như  Đèo Ngang – Sông Roòn – vũng nước sâu Hòn La  – Sông Gianh – đèo Lý Hoà – sông Nhật Lệ – Luỹ Thầy – Sông Dinh, suối nước nóng Bang, Bàu Tró, phá Hạc Hải, Lèn Bảng, Minh Cầm…Quảng Bình cũng  là vùng đất  có nhiều người con lỗi lạc trong lịch sử dân tộc như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Hữu Cảnh, Dương Văn An, Nguyển Hàm Ninh, …làm rạng rỡ dân tộc Việt.


Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh
Ảnh


Một số bài viết của các tác giả khác có cùng chủ đề
Động Thiên Đường, Bố Trạch, Quảng Bình
  Đẹp gấp mười lần động Phọng Nha ( Phạm Viết Đào),
Khám phá động thiên đường nơi trần gian (Minh Cường); Thiên đường trên trái đấtMê cung Phong Nha; Những phát hiện chấn động; Những người có duyên với hang động (Huyền bí Phong Nha Kẻ Bàng - Trương Quang Nam,Vũ Nguyễn, báo Thanh Niên)